Kịch bản nào cho sự hồi phục Kinh tế Việt Nam sau đại dịch?

 
  1. Khủng hoảng và suy thoái kinh tế của Việt Nam trong lịch sử

1.1. Khủng hoảng 2008-2009

Nguyên nhân: Khởi đầu là sai lầm trong điều hành chính sách tiền tệ khi để tín dụng tăng quá mạnh (+51% năm 2007) gây ra lạm phát phi mã trong năm 2008 (+20%). Vào cuối năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra nên nguyên nhân tiền tệ đã không được đánh giá đúng mức. Do không rút ra được bài học này mà vài năm sau đó Việt Nam lại lặp lại sai lầm.

– Mô hình hồi phục – chữ V: Tiềm lực kinh tế của Việt Nam ở trạng thái tốt (tăng trưởng ở giai đoạn trước đó đều trên 7% và ngoại tệ đổ vào nhiều sau khi Việt nam gia nhập WTO). Việt Nam cũng nhanh chóng nới lỏng tiền tệ và tài khóa để kích thích kinh tế. Ở bên ngoài, việc các NHTW hạ lãi suất và nới lỏng định lượng (QE) để tăng cung tiền và khuyến khích cho vay và đầu tư đã giúp kinh tế thế giới hồi phục nhanh. Riêng Trung Quốc duy trì tăng trưởng đều đặn trên 9%.

1.2. Khủng hoảng 2011-2012

– Nguyên nhân: Nếu khủng hoảng năm 2008, chỉ có tiền tệ, thì lần này là khủng hoảng kép do cả tài khóa và tiền tệ đều bị nới lỏng quá mức. Để kích thích kinh tế, Việt nam đã đưa ra gói “kích thích kinh tế 1 tỷ USD”. Tăng trưởng tín dụng năm 2009 lại vọt lên 38%. Tuy vậy, điều đáng nói là, do gói tín dụng này không rõ ràng, nên dòng vốn bị phân tán nhiều sang các tài sản đầu cơ. Chi ngân sách cũng tăng mạnh, đẩy thâm hụt ngân sách năm 2009 lên 6,9% GDP, cao hơn nhiều kế hoạch là 4,82%. Nhiều khoản chi ngân sách đã không được sử dụng hiệu quả, như các dự án của “1000 năm Thăng Long” (Cung tri thức, Làng văn hóa dân tộc, Công viên Tuổi trẻ, Bảo tàng Hà nội,…). Hậu quả là, tỷ lệ nợ công từ dưới 50% GDP trước năm 2010 đã vọt lên mức kỷ lục 63,7% vào năm 2016.

Đồng thời, do bơm tiền quá mạnh bằng cả tín dụng lẫn tài khóa, nên lạm phát đã vọt lên 18% năm 2011. Hậu quả là chính sách tiền tệ và tài khóa sau đó đã phải thắt rất chặt. Khẩu hiệu “ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát” ra đời trong giai đoạn này.

– Mô hình hồi phục – chữ L: Nếu có thể ví nguyên nhân tiền tệ là “bội thực” thì có thể xem tài khóa là “mất máu”. Nếu bội thực thì chỉ cần ăn ít một vài bữa và uống thuốc là khỏi, nhưng nếu mất máu thì phải cần rất nhiều thời gian để bồi bổ, tích lũy. Do đó, quá trình phục hồi của khủng hoảng này kéo dài tới 5 năm, từ năm 2012 đến năm 2016, rất đáng tiếc.

1.3. Suy thoái nhẹ 2016-2017

Nguyên nhân: Vào quý 1/2016, có hai nhân tố chính kéo giảm tăng trưởng là (i) Hạn hán do Elnino, khiến ngành nông nghiệp đã tăng trưởng âm, và (ii) Giá dầu giảm, trữ lượng dầu giảm và căng thẳng biển Đông khiến ngành khai khoáng tăng trưởng âm.

Vào quý 1/2017, sự cố Galaxy Note 7 vào cuối năm 2016 đã làm Công nghiệp điện tử giảm mạnh. Ngành này có tỷ trọng rất lớn nên đã kéo giảm tăng trưởng chung (xuất khẩu của riêng điện thoại năm 2016 đã chiếm tới 17% GDP). Ngoài ra Khai khoáng cũng giảm sâu nhất lịch sử, tới -10%.

Mô hình hồi phục – chữ W: Sự thành công của các mẫu điện thoại tiếp theo của Samsung là Galaxy S8 và Note 8 đã kéo lại tăng trưởng. Điều này có được còn phải kể đến thành quả thu hút FDI trong những năm trước đó. Ngành nông nghiệp hồi phục do thời tiết và thị trường xuất khẩu thuận lợi. Riêng ngành khai khoáng vẫn giảm.

Tóm lại, từ 3 đợt khủng hoảng/suy thoái kể trên có thể thấy tác động đan xen của cả nguyên nhân khách quan (khủng hoảng tài chính, hạn hán, giá dầu, điện thoại lỗi,…) lẫn chủ quan (nới lỏng quá mức, đầu tư kém hiệu quả,….). Vì vậy, trong mô hình dự báo hậu Covid-19, những nguyên nhân/điều kiện khách quan và chủ quan đều phải được tính đến.

  1. Các mô hình hồi phục hậu Covid-19

Căn cứ vào 2 biến số cơ bản là diễn biến dịch bệnh và năng lực ứng phó, có thể đưa ra 4 mô hình hồi phục tương ứng với các điều kiện (có thể xảy ra đồng thời hoặc không) như sau:

1). Mô hình chữ V: Dịch kết thúc trong quý 2; Các biện pháp kích thích kinh tế mang lại hiệu quả tốt; Cải cách thể chế mạnh mẽ trong năm 2020; và  Kinh tế thế giới hồi phục nhanh sau dịch.

2). Mô hình chữ U: Dịch kết thúc trong quý 3; Các biện pháp kích thích gần chạm ngưỡng nhưng còn tương đối hiệu quả; Cải cách thể chế được thực thi ở một số khu vực; và Kinh tế thế giới không bị rơi vào suy thoái nhưng hồi phục chậm.

3). Mô hình chữ L: Dịch kết thúc trong quý 3 hoặc 4; Các biện pháp kích thích không đủ hoặc không hiệu quả; Các cải cách chậm thực thi hoặc không hiệu quả; Có thể khủng hoảng kép (từ dịch bệnh dẫn đến khủng hoảng tài chính.…); và Kinh tế thế giới/Việt nam bị ảnh hưởng nặng nề, phục hồi rất chậm.

4). Mô hình chữ W: Dịch kết thúc trong quý 2 nhưng bùng lại vào đầu năm 2021; và Các biện pháp kích thích và cải cách mang lại hiệu quả tốt trong năm 2020, tạo dư địa cho năm 2021.

  1. Mô hình nào cho kinh tế Việt Nam?

Dựa trên phân tích lịch sử, diễn biến dịch bệnh và khả năng ứng phó, rất có thể kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi theo mô hình chữ V với những lý do sau:

  1. Xác xuất dịch bệnh kết thúc trong mùa hè là tương đối cao. Thực tế cho thấy, các dịch cúm trước đây đều kết thúc vào mùa hè. Lượng người nhiễm virus ở Hà Nội/miền bắc cũng đang cao hơn nhiều ở TP.HCM/miền nam.
  2. Chính phủ đang rất quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng với các giải pháp hợp lý (8 dự án cao tốc chuyển sang đầu tư công, các NHTM hy sinh lợi nhuận để giảm lãi suất,…)
  3. Kích thích kinh tế mạnh mẽ của Mỹ, các nước Tây Âu và Trung Quốc hy vọng sẽ giúp kinh tế thế giới hồi phục nhanh sau dịch.

Tuy vậy, dù khả năng phục hồi theo mô hình chữ V là cao nhất nhưng không nổi trội so với các mô hình khác, có thể đặt xác xuất 35-25-25-15 cho mô hình chữ V, U, L và W. Sự hồi phục thậm chí cũng chưa chắc đã hoàn toàn giống mô hình nào trong 4 mô hình này, do dịch bệnh rất khó nói trước và sức khỏe hệ thống ngân hàng thế giới cũng chưa được đánh giá cụ thể. Ngay cả khi dịch kết thúc đúng như dự báo, thì những nhân tố khác như bầu cử, tranh chấp thương mại, thay đổi chiến lược đầu tư FDI,… cũng sẽ ảnh hưởng đến tốc độ hồi phục.

Nếu theo mô hình chữ V, kinh tế Việt Nam và thế giới sẽ xuống đáy trong quý 2 với mức suy giảm cực lớn, có lẽ là lớn nhất lịch sử vì độ cộng hưởng toàn cầu. Khi dịch bệnh được kiếm soát trong mùa hè và các biện pháp kích thích kinh tế mang lại hiệu quả, tăng trưởng sẽ hồi phục trong quý 3 và nhanh hơn trong quý 4. Sang nửa đầu năm 2021, tăng trưởng sẽ rất cao do nền thấp cùng kỳ năm 2020. Từ nửa cuối năm 2021, tăng trưởng sẽ trở lại quỹ đạo ổn định.

Nếu các biện pháp kích thích và cải cách trong năm 2020 thực sự hiệu quả thì tăng trưởng từ năm 2022 trở đi sẽ ngày một khả quan. Giai đoạn 2018-2019 tăng trưởng đạt 7%, năm 2022 có thể trên 7.5% và tăng dần các năm sau đó.

Nguồn: Ngọc Trịnh – tổng hợp

Lượt xem 142

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.