THOÁI TRUNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN GẦN ĐÂY VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM

 

 

Tóm tắt: Mấy năm gần đây, trước sự tác động mạnh mẽ của tranh chấp thương mại Mỹ-Trung, đại dịch Covid-19 và các nhân tố kinh tế và chính trị trong nước, khu vực và quốc tế khác, các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Nhật Bản đã có kế hoạch dịch chuyển hoạt động sản xuất khỏi Trung Quốc sang các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam. Việc các các doanh nghiệp Nhật Bản rời Trung Quốc là nhằm thực hiện chính sách đa dạng hóa các chuỗi cung ứng toàn cầu và giảm thiểu sự phụ thuộc kinh tế của Nhật Bản vào Trung Quốc. Bài viết trình bày thực trạng, mục đích và định hướng THOÁI TRUNG của các doanh nghiệp Nhật Bản; từ đó đưa ra những hàm ý chính sách cho Việt Nam.

 

Từ khóa: Thoái Trung, dịch chuyển, đa dạng hóa, Nhật Bản

 

  1. Thực trạng THOÁI TRUNG của các doanh nghiệp Nhật Bản

Từ đầu năm 2019, đầu năm 2020, không ít các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp Nhật Bản, có kế hoạch hủy bỏ hoặc tạm dừng đầu tư vào Trung Quốc, dịch chuyển một phần hoặc toàn bộ dây chuyền sản xuất khỏi Trung Quốc. Hiện tượng đó thể hiện trước hết ở việc giảm số lượng các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư ở Trung Quốc. Cụ thể, theo kết quả điều tra của Teikoku Databank, một hãng nghiên cứu tín dụng hàng đầu Nhật Bản, vào cuối tháng 5 năm 2019, số công ty Nhật Bản hoạt động tại Trung Quốc là 13.685, giảm 249 công ty so với 13.934 công ty trong cuộc khảo sát năm 2016, và giảm 709 công ty so với lúc cao điểm 14.394 công ty vào năm 2012[1]. Cũng theo một khảo sát khác của Teikoku Datebank, vào thời điểm tháng 1/2020, số công ty Nhật Bản đang hoạt động tại Trung Quốc là 13.646 công ty, giảm 39 công ty so với năm 2019 và giảm tới 748 công ty so với năm 2012[2]. Theo khảo sát hồi tháng 2/2020 của Tokyo Shoko Research, 37% trong số hơn 2.600 công ty Nhật tham gia khảo sát đã đang đa dạng hóa mua bán sang những thị trường khác ngoài Trung Quốc trong bối cảnh đại dịch Covid-19 dâng cao[3].

Theo khảo sát của tờ Nikkei Asian Weekly thực hiện với lãnh đạo các doanh nghiệp lớn tại Nhật Bản từ ngày 25/5 đến 28/5/2020, sau khi nước này dỡ bỏ các lệnh phong tỏa, 70% doanh nghiệp Nhật Bản được khảo sát muốn đa dạng hóa chuỗi cung ứng để giảm thiểu rủi ro từ sự phụ thuộc vào một nguồn duy nhất là Trung Quốc. Trong số các công ty có nhà máy ở Nhật Bản, 72,1% cho biết, họ cần phải thay đổi chuỗi cung ứng. Trong đó, 65,3% muốn chuyển đổi nguồn cung linh hoạt hơn trong trường hợp xảy ra một cuộc khủng hoảng như dịch Covid-19. Khoảng 57,1% khẳng định sẽ ngừng mua nguyên liệu từ một quốc gia duy nhất để đa dạng hóa nguồn cung[4].

Gần đây, có 87 doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động ở Trung Quốc tuyên bố sẽ thoái vốn khỏi Trung Quốc. Trong đó, 57 doanh nghiệp sẽ mở thêm nhà máy tại Nhật Bản, 30 doanh nghiệp còn lại sẽ mở rộng sản xuất sang các nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Malaysia, Philippines, Lào, Myanmar và Thái Lan. Khoảng 70% số doanh nghiệp này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với hơn 2/3 chuyên sản xuất cung ứng vật tư y tế[5]. Theo JETRO, trong 30 doanh nghiệp thoái vốn khỏi Trung Quốc, có một nửa (tức 15 doanh nghiệp ) đã đăng ký chuyển sang Việt Nam, gồm cả các doanh nghiệp lớn, nhỏ và vừa (SME). Chưa rõ việc di dời này là một phần hay toàn bộ hoạt động sản xuất của họ tại Trung Quốc. Đa số doanh nghiệp được trợ cấp để chuyển sang Việt Nam thuộc lĩnh vực sản xuất thiết bị y tế. Bên cạnh đó, có một số doanh nghiệp sản xuất liên quan đến chất bán dẫn, linh kiện điện thoại, máy điều hoà hay module điện,… Trong danh sách này, Tập đoàn Hoya sản xuất linh kiện ổ cứng dự kiến di dời hoạt động sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam và Lào. JETRO cho biết, số tiền trợ cấp cho các doanh nghiệp này dao động từ 100 triệu đến 5 tỷ yen, để bù đắp một phần chi phí cần thiết để mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết bị cho việc mở rộng sản xuất. Ngoài 30 công ty được trợ cấp để chuyển hoạt động sản xuất từ Trung Quốc sang Đông Nam Á, 57 doanh nghiệp chuyển sản xuất trở về Nhật Bản, trong đó có công ty Iris Ohyama chuyên sản xuất khẩu trang và Tập đoàn Sharp cũng sẽ được chính phủ Nhật Bản tài trợ tổng cộng ít nhất 57,5 tỷ yen (536 triệu USD). Đây là một phần chính sách nằm trong dự án đa dạng hoá chuỗi cung ứng toàn cầu được Nhật Bản công bố từ tháng 4/2020. Nhật Bản là nền kinh tế thứ hai (sau Đài Loan) có chính sách cụ thể để đẩy mạnh việc đa dạng hoá chuỗi cung ứng toàn cầu, giảm thiểu sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc[6].(Phần thực trạng cần bổ thêm dung lượng. Đây là hiện tượng xảy rất Gần đây nên chưa có nhiều tư liệu và số liệu có hệ thống để minh họa và phân tích)

Chiều hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc của các doanh nghiệp Nhật Bản như trên là do những nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, rủi ro kinh doanh tại Trung Quốc ngày càng gia tăng. Kể từ khi Donald Trump trở thành Tổng thống Mỹ vào năm 2017, những rủi ro đối với hoạt động đầu tư vào Trung Quốc đã tăng lên đáng kể. Từ cuối 2017, tranh chấp thương mại Mỹ-Trung ngày càng khốc liệt và chưa rõ hồi kết. Sau hai năm thương chiến, các doanh nghiệp Nhật Bản tại Trung Quốc phải chịu thuế suất cao hơn khi thuế quan trung bình Mỹ áp lên hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng từ 3,1% lên 19,3% và có nguy cơ bị Mỹ cấm vận và trừng phạt nếu cứ bám mãi vào chuỗi cung ứng Trung Quốc[7]. Điều này không chỉ khiến các doanh nghiệp Mỹ mà cả Nhật Bản cũng muốn tìm kiếm những vùng đất mới để đầu tư. Và Việt Nam chính là một địa điểm được chọn để phát triển mối quan hệ thương mại và đầu tư với Nhật Bản.

Xu hướng dịch chuyển này còn được công khai và rõ nét hơn bao giờ hết sau khi dịch Covid-19 bùng nổ ở Trung Quốc làm tê liệt các chuỗi cung ứng thế giới, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp toàn cầu[8], trong đó có Nhật Bản. Chẳng hạn, lượng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vào Nhật Bản đã giảm gần một nửa trong tháng 2/2020 do ảnh hưởng của Covid-19 khiến các nhà máy Trung Quốc đóng cửa. Điều này khiến các nhà sản xuất Nhật Bản thiếu các thành phần cần thiết để vận hành[9].Trước tình hình đó, Bộ trưởng Kinh tế Nhật Bản Yasutoshi Nishimura đánh giá dịch bệnh lần này đã khiến nhiều doanh nghiệp Nhật Bản nhận thức được sự dại dột của “việc bỏ tất cả trứng vào một rổ”, về sự cần thiết phải đa dạng hóa chuỗi cung ứng và của một kế hoạch dự phòng”. Ông  nói: “Chúng ta cần phải làm cho chuỗi cung ứng mạnh mẽ và đa dạng hơn, mở rộng nguồn cung và tăng cường sản xuất trong nước”[10].

Thứ hai, quan hệ song phương giữa hai nước ngày càng căng thẳng liên quan tới vấn đề chủ quyền các đảo trên Biển Hoa Đông từ nhiều năm qua. Trước những rủi ro về chính trị như vậy, các doanh nghiệp Nhật Bản nhận ra rằng, thay vì đánh cược vào thị trường Trung Quốc đã chuyển hướng sang tìm kiếm những địa bàn đầu tư khác an toàn hơn[11]. Tình hình này cho thấy, ngay cả khi không có tranh chấp thương mại và đại dịch Covid-19 thì dòng vốn đầu tư từ Nhật Bản cũng đã rục rịch rút khỏi Trung Quốc từ vài năm trước. Chẳng hạn, FDI của Nhật Bản vào Trung Quốc đã giảm tới -4,0% năm 2013;-38,7% năm 2014; -26,1% năm 2015; -3,1% năm 2016; và chỉ tăng trở lại có +5,6% năm 2017 sau khi chính phủ Nhật Bản quốc hữu hóa quần đảo Senkaku/Điếu Ngư (vào tháng 9 năm 2012) và thủ tướng Shinzo Abe viếng đền Yasukuni (vào tháng 12 năm 2013)[12].(Cần có trích nguồn dẫn tài liệu).

Thứ ba, dòng vốn đầu tư chuyển hướng từ Trung Quốc sang các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, bắt nguồn từ sự “hụt hơi” của chính nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này. Sau nhiều năm tăng trưởng trên dưới 10% sang những năm 2010 nền kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng chậm lại, chỉ đạt 6,6% năm 2018, và 6,1% năm 2019, thấp nhất trong vòng 40 năm qua.Tuy vậy, điều quan trọng là các nhà đầu tư quốc tế, trong đó có Nhật Bản, không thể đánh giá chính xác tương lai của nền kinh tế Trung Quốc, nên rất khó có thể đưa ra quyết định đầu tư cụ thể vào quốc gia này. Hơn nữa, hiện nay Trung Quốc không còn là quốc gia có tỷ lệ dân số trẻ nữa, mà người cao tuổi ở Trung Quốc không chỉ nhiều nhất về số lượng, mà tốc độ già hóa cũng nhanh nhất thế giới[13], trong khi Việt Nam vẫn chưa qua thời kỳ dân số vàng.

Thứ tư, chi phí cho các yếu tố đầu vào, nhất là tiền lương,tại Trung Quốc ngày càng tăng cao (thậm chí tới 40%/năm ở nhiều khu vực), khiến giá cả leo thang, môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn hơn. Nếu ở Việt Nam, tiền công trung bình tại doanh nghiệp FDI khoảng 300-350 USD/lao động/tháng, thì tại Trung Quốc con số này cao gấp đôi, thậm chí gấp ba. Do đó, các doanh nghiệp Nhật Bản thấy cần phải lựa chọn nơi có chi phí thấp hơn để gia tăng lợi nhuận. Một khảo sát của Tổ chức Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) cho thấy 83,9% các công ty Nhật tin rằng việc lương tăng là một vấn đề chính yếu đối với hoạt động kinh doanh của họ ở Trung Quốc[14].Ngoài ra, các chi phí khác như xây dựng nhà xưởng, phí môi trường, phí sử dụng đất, phí thuê văn phòng,… cũng có xu hướng tăng[15]. Điều này khiến các doanh nghiệp Nhật Bản phải xem lại chiến lược đầu tư vào Trung Quốc, vốn lâu nay thường chú trọng tới tận dụng phí đầu vào và lao động giá rẻ.

Thứ năm, do sự thay đổi chính sách của Trung Quốc. Cho đến hết thời Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Bắc Kinh luôn ưu tiên thu hút doanh nghiệp FDI nhằm thúc đẩy tăng trưởng. Từ khi lên nắm quyền, Chủ tịch Tập Cận Bình đã có sự thay đổi trong chính sách, bắt đầu bằng việc siết chặt lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài và ưu tiên doanh nghiệp trong nước,hướng tới việc phát triển về chất lượng các ngành sản xuất, coi trọng các lĩnh vực công nghệ cao và dịch vụ. Đây là nguyên nhân khiến mô hình sản xuất dựa trên lao động giá rẻ, tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệu, dễ gây ô nhiễm môi trường khó có thể tồn tại. Trước tình trạng đó, một số doanh nghiệp Nhật Bản cũng bắt đầu đầu tư mở các trung tâm nghiên cứu, dịch vụ tại Trung Quốc, song mức đầu tư thấp hơn rất nhiều so với các dự án xây dựng cơ sở sản xuất[16].

Thứ sáu, trong lúc Trung Quốc siết chặt đầu tư nước ngoài thì các nước ASEAN và châu Á khác như Ấn Độ, Inđônêxia, Việt Nam,… lại vẫn rất nỗ lực tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm tăng cường thu hút nhà đầu tư nước ngoài[17].

  1. Mục đích và định hướng THOÁI TRUNG của các doanh nghiệp Nhật Bản

Việc chính phủ Nhật Bản công khai khuyến khích các doanh nghiệp rút các cơ sở sản xuất về nước hay đa dạng hóa đầu tư sang các quốc gia khác nhằm mục đích phân tán rủi ro, tránh quá phụ thuộc vào nguồn cung ứng duy nhất là Trung Quốc, vì rất mạo hiểm, dễ trở thành con tin của Trung Quốc, nếu xảy ra khủng hoảng như dịch bệnh hay mâu thuẫn chính trị giữa hai quốc gia. Đồng thời, việc dịch chuyển này có những định hướng chủ yếu sau:

Trước hết,về địa bàn, sẽ xảy ra 3 khả năng:(i) Các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ hồi hương các hoạt động sản xuấtvề nước. Khả năng này chỉ xảy ra đối với các doanh nghiệp lớn hoạt động trong các lĩnh vực chiến lược, có trình độ khoa học công nghệ cao, có tầm quan trọng đối với an ninh kinh tế và chính trị quốc gia, và không gây ô nhiễm môi trường;(ii)từ bỏ Trung Quốc để di dời hẳn sang nước khác, sẽ ít có khả năng, vì khó có thể lựa chọn được nước đáp ứng được tốt những điều kiện về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực có chất lượng, hệ thống logistic chuyên nghiệp, môi trường kinh doanh thuận lợi và thị trường tiêu thụ có quy mô lớn như của Trung Quốc hiện nay;(iii)đa dạng hóa nguồn cung ứng, các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn duy trìcơ sở sản xuất ở Trung Quốc, song sẽ hạn chế đầu tư mới và mở rộng, mà sẽ đầu tư thêm vào các quốc gia Đông Nam Á khác,trong đó có Việt Nam theo phương ánTrung Quốc+1. Khả năng này sẽ là chủ đạo, vì sẽ giúp các doanh nghiệp Nhật Bản tạo được thế chủ động, vừa tiếp tục tận dụng được những ưu thế của thị trường Trung Quốc, lại vừa tránh được sự phụ thuộc thái quá vào thị trường này, đồng thời vẫn khai thác được những lợi thế của các thị trường khác.

Thứ hai, về ngành và lĩnh vực sẽ di dời, (i) các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ hồi hương dây chuyền sản xuất của những ngành có giá trị cao từ Trung Quốc về lại Nhật Bản; (ii) đối với các sản phẩm còn lại, chủ yếu là những ngành cần nhiều lao động, trình độ công nghệ thấp và vừa phải, dễ gây ô nhiễm môi trường, sẽ tìm đường di chuyển sang các quốc gia Đông Nam Á, nơi có môi trường kinh doanh phù hợp. Điều này đã được thủ tướng Shinzo Abe, với tư cách Chủ tịch Hội đồng Đầu tư cho Tương lai, khẳng định vào tháng 4/2020: “Do virus corona, nên sản phẩm từ Trung Quốc đến Nhật Bản ít hơn, khiến mọi người rất lo lắng về chuỗi cung ứng của chúng ta. Do đó, trong số các sản phẩm phụ thuộc nhiều vào một quốc gia duy nhất để sản xuất, chúng ta nên cố gắng di dời các mặt hàng có giá trị gia tăng cao về Nhật Bản. Và đối với mọi thứ khác, chúng ta nên đa dạng hóa quốc gia (sản xuất) như các nước ASEAN. Chúng ta cần chấm dứt sự phụ thuộc nặng nề vào một quốc gia nhất định đối với một sản phẩm hoặc vật liệu cụ thể[18].

  1. Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Dù chưa rõ hiện tượng đa dạng hóa đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản từ Trung Quốc sang Đông Nam Á, nhất là Việt Nam, có bùng lên thành “làn sóng” như nhiều người kỳ vọng hay không, song để tận dụng tốt được xu hướng này, Việt Nam cần tập trung vào những vấn đề sau:

Một là, tới đây, Việt Nam cần phải có đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và biện pháp phát triển kinh tế, xã hội phù hợp, và phải được đề ra trên cơ sở thực tế khách quan trong và ngoài nước, từ cả những kinh nghiệm thành công lẫn thất bại thời gian qua, với những mục tiêu và bước đi phù hợp, tránh thổi phồng và cũng như tránh coi nhẹ[19].

Hai là, cho đến nay, chính sách thu hút FDI của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào cắt giảm thuế quan và miễn giảm thuế nhập khẩu. Nhiều nhà đầu tư tới Việt Nam do chính sách ưu đãi đầu tư và chi phí lao động rẻ. Trong tương lai, Việt Nam cần đánh giá lại chiến lược thu hút FDI nói chung, FDI từ Nhật Bản nói riêng cho đến nay. Cần loại bỏ quan điểm thu hút FDI bằng mọi giá, mà chỉ thu hút những dự án phù hợp với đường lối và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, với trình độ kinh tế, và nguồn lực phát triển (về vốn, khoa học-công nghệ và nhân lực) của Việt Nam. Bởi vì, sau hơn 30 năm Việt Nam đã có một vị thế khác trong thu hút đầu tư nước ngoài. Hiện Việt Nam cần đầu tư nước ngoài không chỉ vì chúng ta cần vốn, yếu tố vốn không còn là nhân tố quan trọng nhất. Câu hỏi bây giờ là: Chúng ta thu được lợi ích gì? Lợi ích ở đây là việc học hỏi công nghệ, thiết lập các mối liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Việc tham gia, thực hiện các FTA tiêu chuẩn cao như CPTPP, EVFTA phần nào thể hiện kỳ vọng của Việt Nam về những lợi ích ấy, song cũng thể hiện sự thay đổi tư duy về thu hút đầu tư nước ngoài.Nền kinh tế gần 100 triệu dân theo đó không hạn chế dòng vốn ngoại nhưng sẽ ưu tiên hấp thụ, tạo thuận lợi cho dòng vốn nào phù hợp nhất với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong thời gian tới[20].

Ba là, cần chủ động đánh giá khách quan và thực tế năng lực, điều kiện, điểm mạnh, điểm yếu của mình, không nên quá tự tin mà cho rằng, chỉ Việt Nam mới có khả năng/hay có khả năng nhất thay thế Trung Quốc trong thu hút FDI nói chung, và FDI từ Nhật Bản nói riêng[21].

Bốn là, không thể và không nên định vị Việt Nam là quốc gia thay thế Trung Quốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu vì các lý do sau: (i) Trung Quốc(chứ không phải Việt Nam) với thị trường 1,4 tỷ dân và tiềm lực mạnh cả về sức mua và công nghiệp phụ trợ sẽ luôn có được quyền lực rất lớn trong định hình lại chuỗi cung ứng này; (ii)Việt Nam sẽ thành công hơn trong thu hút các đầu tư chiến lược, nếu định vị Việt Nam như một điểm đến bổ trợ có độ tin cậy cao trong công thức Trung Quốc+1 thay vì cạnh tranh đối đầu với Trung Quốc; (iii) ngoài Việt Nam, các quốc gia châu Á khác (như Ấn Độ, Inđônêxia,…) cũng đang được coi là có điều kiện, lợi thế không kém Việt Nam và đang cạnh tranh quyết liệt để thu hút nguồn vốn FDI thoái lui từ Trung Quốc.

Năm là, trong xu thế chung, dòng vốn Nhật Bản dịch chuyển từ Trung Quốc sang các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, đang ngày một rõ nét hơn, song cần lưu ý rằng, việc tranh thủ cơ hội này để thu hút các dự án công nghiệp lớn hiện đại, quy mô theo chuỗi vào Việt Nam là rất khó. Bởi vì các dự án công nghệ cao không còn phụ thuộc vào lao động rẻ bởi các công đoạn được tự động hoá rất cao. Vì vậy, các ngành công nghệ hiện đại thường có trình độ tự động hoá rất cao, có thể đặt ở bất cứ đâu và thường là họ lựa chọn đặt nhà máy ở chỗ nào gần khu vực tiêu thụ hay bất cứ quốc gia phát triển nào cũng được, như Đức, Mỹ, Nhật,… chứ không nhất thiết phải là Việt Nam hay một quốc gia Đông Nam Á nào, để giảm chi phí vận tải. Ngày xưa các nhà máy đặt ở Việt Nam có thể bù chi phí vận chuyển bằng lao động giá rẻ, còn giờ đây phần lớn sử dụng robot nên phải đặt ở địa điểm nào là nơi tiêu thụ chính của hãng sản xuất đó. Trong khi chúng ta cũng thấy, hơn 90% sản phẩm của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam được xuất khẩu chứ không phải tiêu thụ trong nước. Thậm chí, một số ngành công nghiệp như điện tử, ô tô mà hiện nay Việt Nam đang có thì rất có thể sẽ biến động lớn khi công nghiệp 4.0 mạnh lên, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, robot,… Trong xu thế đó, các ngành này khó có thể ổn định lâu dài ở Việt Nam, nơi mà ngoài lao động rẻ ra thì không có ưu thế nổi trội, do chi phí logistics rất cao, các loại phí dịch vụ công, vận tải, vận chuyển cũng rất cao do đường sá xấu,…

Sáu là, Việt Nam nên có sự chuẩn bị sẵn sàng cả môi trường/điều kiện phù hợp như cơ sở hạ tầng, hệ thống logistics, năng lực quản trị của nhà nước và doanh nghiệp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nguồn nhân lực có trình độ, điều kiện làm việc của công nhân,…) để thu hút được FDI phù hợp từ Nhật Bản và các quốc gia khác. Không nên dàn trải nguồn lực (còn hạn chế) để thu hút mọi dự án FDI và bằng mọi giá, mà cần có chiến lược thu hút phù hợp, có trọng tâm trọng điểm, tránh khiến Việt Nam dễ tổn thương hoặc có thể bỏ lỡ cơ hội lần này[22].

Bảy là, dù được đánh giá có nhiều lợi thế trong việc đón dòng vốn FDI thoái lui từ Trung Quốc, nhưng thực tế cho thấy vốn rút khỏi Trung Quốc hiện nay mới chỉ là cơn sóng nhỏ[23]. Đồng thời, không nên quá kỳ vọng vào việc dòng vốn nước ngoài, nhất là Nhật Bản, rút khỏi Trung Quốc sẽ chảy ồ ạt vào Việt Nam, vì các quốc gia khác (cả trong lẫn ngoài Đông Nam Á) đều là đích ngắm và đều cạnh tranh thu hút nguồn vốn này. Do đó, Việt Nam không nên chủ quan, mà phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, thay đổi phương thức vận động, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng định hướng nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, sử dụng sản phẩm đầu vào trong nước, thay thế nhập khẩu,… để duy trì lợi thế, tận dụng tới mức cao nhất có thể nguồn vốn này.

Tám là, dù sao chăng nữa, để có thể lôi kéo được đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản, Việt Nam cần tạo cơ chế ưu đãi đầu tư phù hợp với đặc điểm của ngành sản xuất, chế tạo của Nhật Bản, xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng theo phương thức PPP, cho phép doanh nghiệp Nhật Bản góp vốn vào các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam; xem xét mở rộng hơn nữa cơ chế ưu đãi cho các công nghệ tiên tiến cũng như các doanh nghiệp mở rộng đầu tư với quy mô lớn; xây dựng cơ chế ưu đãi cho một chuỗi sản xuất chứ không chỉ cho một doanh nghiệp; đẩy mạnh hợp tác đầu tư với các doanh nghiệp Nhật Bản trong một số lĩnh vực như phát triển nguồn nhân lực, phát triển một số lĩnh vực mới, công nghiệp hỗ trợ, và nghiên cứu và phát triển./.

 

Tài liệu tham khảo chính

  1. Phiên An, 2020, https://www.vcci.com.vn/trung-quoc-lo-mat-mat-neu-doanh-nghiep-nhat-roi-di, cập nhật ngày 06/08.
  2. Rumi Aoyama, 2015, http://nghiencuuquocte.org/2015/11/30/dieu-gi-dang-day-cong-ty-nhat-ra-khoi-trung-quoc/, cập nhật ngày 30/11.
  3. Thu Hải, 2020, http://vinanet.vn/kinhte-taichinh/ngoi-vi-cong-xuong-the-gioi-cua-trung-quoc-co-de-bi-de-doa-732473.html, cập nhật ngày 21/07.
  4. Khổng Hiệp, 2020,https://www.thiennhien.net/2020/05/06/don-fdi-dich-chuyen-tu-trung-quoc/, cập nhật ngày 06/05.
  5. Bảo Lan, 2018, https://baoquocte.vn/nguon-cung-han-che-day-gia-thue-van-phong-khu-vuc-chau-a-tang-ky-luc-83400.html, truy cập ngày 12/12.)
  6. Linh Lan, 2020, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/thu-hut-fdi-voi-tinh-than-chu-dong-hon-325388.html, cập nhật ngày 11/07.
  7. Hà Lực, 2019, http://nghiencuuquocte.org/2019/10/12/co-hoi-cua-viet-nam-trong-chuoi-nganh-nghe-toan-cau/, cập nhật ngày 12/10.
  8.  Đức Minh, 2019,http://cafef.vn/dang-sau-dong-chay-dau-tu-cua-trung-quoc-don-dap-do-vao-viet-nam-se-la-cau-chuyen-gi-2019051321281271.chn, cập nhật ngày 14/05.
  1. Đông Phong, 2020, https://nhipsongdoanhnghiep.cuocsongantoan.vn/the-gioi/ong-abe-muon-cong-ty-nhat-roi-trung-quoc-bac-kinh-lo-lang-doi-pho-3541620.html, cập nhật ngày 19/04.
  2. Phong Nguyễn, 2019, https://laodong.vn/xa-hoi/gia-hoa-dan-so-cua-viet-nam-nhanh-nhat-the-gioi-758149.ldo, cập nhật ngày 04/10.
  3. Tri Phương (TTXVN/Vietnam+), 2016, https://www.vietnamplus.vn/ly-giai-nguyen-nhan-fdi-cua-nhat-ban-vao-trung-quoc-giam-manh/367618.vnp,cập nhật ngày 21/01.
  4. Quỳnh Trang, 2020, https://vnexpress.net/1-400-doanh-nghiep-nhat-xem-xet-mo-rong-san-xuat-tai-viet-nam-4147680.html, cập nhật ngày thứ Hai, 17/08.
  5. Như Trần, 2020, https://zingnews.vn/nhat-ban-chi-2-2-ty-usd-de-cac-cong-ty-roi-trung-quoc-post1070727.html, cập nhật ngày 09/04.
  6. Thanh Trần, 2020, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-quoc-te/hang-nghin-doanh-nghiep-nhat-ban-xin-ngan-sach-de-roi-khoi-trung-quoc-327684.html, cập nhật ngày 19/10.
  7. Trung tâm tin túc VTV24, 2020, https://vtv.vn/kinh-te/nhat-ban-chi-22-ty-usd-de-cac-cong-ty-roi-trung-quoc-20200410084004171.htm, cập nhật ngày thứ Sáu, 10/04.
  8. Hương Vũ, 2020, https://baoquocte.vn/hau-covid-19-hon-70-doanh-nghiep-nhat-ban-muon-dich-chuyen-chuoi-cung-ung-ra-khoi-trung-quoc-116731.html, cập nhật ngày 02/06.
  9. WTO-FTA, VCCI, 2020, https://trungtamwto.vn/chuyen-de/15745-cuc-dien-chuyen-huong-thuong-mai-sau-hai-nam-cuoc-chien-thue-quan, cập nhật ngày 15/07.
  10. WTO-FTA, VCCI, 2020, https://trungtamwto.vn/chuyen-de/15807-tro-thanh-diem-den-trong-cuoc-dich-chuyen-cua-nha-dau-tu-nhat-ban, cập nhật ngày 27/07.

[1] Phiên An, 2020, https://www.vcci.com.vn/trung-quoc-lo-mat-mat-neu-doanh-nghiep-nhat-roi-di, cập nhật ngày 06/08.

[2] Thu Hải, 2020, http://vinanet.vn/kinhte-taichinh/ngoi-vi-cong-xuong-the-gioi-cua-trung-quoc-co-de-bi-de-doa-732473.html, cập nhật ngày 21/07.

[3] Trung tâm tin tức VTV24, 2020, https://vtv.vn/kinh-te/nhat-ban-chi-22-ty-usd-de-cac-cong-ty-roi-trung-quoc-20200410084004171.htm, cập nhật ngày thứ Sáu, 10/04.

[4] Hương Vũ, 2020, https://baoquocte.vn/hau-covid-19-hon-70-doanh-nghiep-nhat-ban-muon-dich-chuyen-chuoi-cung-ung-ra-khoi-trung-quoc-116731.html, cập nhật ngày 02/06.

[5] Phiên An, 2020, đã dẫn.

[6] Quỳnh Trang, 2020, https://vnexpress.net/15-cong-ty-nhat-du-kien-roi-trung-quoc-sang-viet-nam-4132778.html, cập nhật ngày thứ Hai, 20/07.

[7] WTO-FTA, VCCI, 2020, https://trungtamwto.vn/chuyen-de/15745-cuc-dien-chuyen-huong-thuong-mai-sau-hai-nam-cuoc-chien-thue-quan, cập nhật ngày 15/07.

[8] Đại dịch Covid-19 khiến hoạt động sản xuất tại Trung Quốc tê liệt trong suốt hai tháng đầu năm 2020. 14 tỉnh và thành phố bị phong tỏa trong đợt dịch đóng góp 69% GDP cũng như 78% xuất khẩu của Trung Quốc vào tháng 12/2019. Ba nhóm doanh nghiệp có liên quan trực tiếp đến chuỗi cung ứng chiếm tới 66,14% tổng số doanh nghiệp của vùng dịch bệnh.

[9] Như Trần, 2020, https://zingnews.vn/nhat-ban-chi-2-2-ty-usd-de-cac-cong-ty-roi-trung-quoc-post1070727.html, truy cập ngày 09/04.

[10] Khổng Hiệp, 2020,https://www.thiennhien.net/2020/05/06/don-fdi-dich-chuyen-tu-trung-quoc/, cập nhật ngày 06/05.

[11] Như chú thích 3.

[12] Liu Zhen, 2017, https://www.scmp.com/news/china/diplomacy-defence/article/2099417/japanese-firms-more-willing-invest-china, updated at 22 Jun.

[13] Trung Quốc đã chính thức bước vào xã hội dân số già từ năm 1999. 20 năm qua, tỷ lệ người cao tuổi trong dân số Trung Quốc đã tăng từ 1/10 năm 1999 lên 1/6 vào cuối năm 2018. Hiện nước này là quốc gia duy nhất trên thế giới có trên 200 triệu người già (gần 250 triệu người). Dự báo, vào khoảng năm 2035, hơn 1/4 dân số nước này sẽ là người già, đến khoảng năm 2050, con số này sẽ là hơn 1/3, tức cứ trong 3 người Trung Quốc sẽ có 1 người cao tuổi, với quy mô lên tới 487 triệu người. (Theo Phong Nguyễn, 2019, https://laodong.vn/xa-hoi/gia-hoa-dan-so-cua-viet-nam-nhanh-nhat-the-gioi-758149.ldo,cập nhật ngày 04/10.)

[14] Rumi Aoyama, 2015, http://nghiencuuquocte.org/2015/11/30/dieu-gi-dang-day-cong-ty-nhat-ra-khoi-trung-quoc/, cập nhật ngày 30/11.

[15]Trung Quốc chiếm 50% trong top 10 thị trường có giá thuê văn phòng đắt nhất thế giới. Những thị trường lớn tại Trung Quốc bao gồm Hong Kong, Bắc Kinh, Thâm Quyến và Thượng Hải đều thuộc top 10 thị trường văn phòng cao cấp đắt nhất châu Á. Chi phí, giá thuê văn phòng cao cấp tại trung tâm Hong Kong lên đến 3.638 USD/m2/năm, tại phố tài chính Bắc Kinh là khoảng 2.034 USD/m2/năm và Pudong Thượng Hải vào khoảng 1.410 USD/m2/năm, gấp từ 2,5 đến 5,5 lần giá thuê văn phòng tại TP.HCM. (Theo Bảo Lan, 2018, https://baoquocte.vn/nguon-cung-han-che-day-gia-thue-van-phong-khu-vuc-chau-a-tang-ky-luc-83400.html, truy cập ngày 12/12.)

[16]Tri Phương, 2016, https://www.vietnamplus.vn/ly-giai-nguyen-nhan-fdi-cua-nhat-ban-vao-trung-quoc-giam-manh/367618.vnp,cập nhật ngày 21/01.

[17] Trong cuộc đua này, Việt Nam không phải một mình một chợ, mà phải cạnh tranh khốc liệt với các quốc gia khác. Đặc biệt hiện có hai đối thủ rất lớn cần lưu ý: Một là Ấn Đô. Tại đó, thủ tướng Narendra Modi đề ra chiến lược phải thu hút được 1.000 tập đoàn lớn chuyển từ Trung Quốc sang. Họ đã sẵn sàng về đất, ưu đãi, và giao cụ thể cho các đơn vị phải làm bằng được. Hai là Inđônêxia. Một quốc gia có dân số gấp 3 lần, GDP gấp 4 lần Việt Nam, là nước lớn nhất trong ASEAN cũng đang gấp rút tìm cách thu hút FDI. Tổng thống Joko Widodo cho biết, đã chuẩn bị sẵn sàng 4.000 ha đất cho các nhà máy di dời từ Trung Quốc sang. (Theo WTO Center, VCCI, 2020, https://trungtamwto.vn/su-kien/15620-gs-nguyen-mai-tuong-lai-dong-fdi-vao-viet-nam-va-noi-lo-cua-nhung-doanh-nghiep-nhu-samsung-khi-vingroup-viettel-lon-len, cập nhật ngày 26/06.)

[18] Đông Phong, 2020, https://nhipsongdoanhnghiep.cuocsongantoan.vn/the-gioi/ong-abe-muon-cong-ty-nhat-roi-trung-quoc-bac-kinh-lo-lang-doi-pho-3541620.html, cập nhật ngày 19/04.

[19]Linh Lan, 2020, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/thu-hut-fdi-voi-tinh-than-chu-dong-hon-325388.html, cập nhật ngày 11/07.

[20] Đức Minh, 2019,http://cafef.vn/dang-sau-dong-chay-dau-tu-cua-trung-quoc-don-dap-do-vao-viet-nam-se-la-cau-chuyen-gi-2019051321281271.chn, cập nhật ngày 14/05.

[21] Linh Lan, 2020, đã dẫn.

[22] Lưu Thủy, 2020, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/dinh-vi-co-hoi-vang-fdi-325208.html, cập nhật ngày 07/07.

[23] Mặc dù cho đến giữa tháng 7, theo Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, đã có 87 công ty đủ điều kiện nhận khoản trợ cấp tổng cộng 70 tỷ JPY (653 triệu USD) để chuyển dây chuyền sản xuất từ Trung Quốc về Nhật hoặc sang các quốc gia Đông Nam Á khác như Việt Nam, nhưng con số đó mới chỉ chiếm 1% tổng FDI Nhật Bản ở Trung Quốc, nên chưa có tác động đáng kể.

Nguồn: VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆTNAM – VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔNG BẮC Á

PGS.TS. Lưu Ngọc Trịnh,

Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới

TS. Lê Đăng Minh

Đại học Công nghệ Sài Gòn

 

Lượt xem 15

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.