CPTPP: Thách thức nhiều hơn cơ hội

 

Việc tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) sẽ mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội bởi nó không chỉ sẽ tác động ở lĩnh vực kinh tế mà còn tác động tích cực đến Việt Nam trên nhiều khía cạnh, đồng thời tạo vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong số những FTA mà Việt Nam đã tham gia ký kết và đàm phán thì CPTPP là Hiệp định rất quan trọng và tiến bộ, có độ mở cửa thị trường cao nhất, xóa bỏ gần như toàn bộ thuế nhập khẩu theo lộ trình, tự do hóa dịch vụ và đầu tư trên cơ sở tuân thủ pháp luật của nước sở tại. Sẽ có tới 66% dòng thuế về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực, 86,5% dòng thuế sẽ về 0% sau 3 năm và sau 11 năm có 97,8% dòng thuế sẽ được xóa bỏ. Đây cũng là thị trường lớn (11 quốc gia) với GDP khoảng 11 tỷ USD, chiếm 13,5% GDP toàn cầu; kim ngạch xuất khẩu 10 nghìn tỷ USD; chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu; dân số 500 triệu dân.

CPTPP, thường được gọi là TPP-11, là hiệp định thương mại tự do giữa Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Tiền thân của CPTPP là Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vốn có 12 nước. Ảnh: Hoàng Hiệp.

Đừng để ra biển lớn, nhưng nước lại vào nhiều hơn

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội đươc mở ra thì chúng ta cũng phải đứng trước những thách thức không nhỏ mà nếu không có những chính sách thay đổi, Việt Nam sẽ đứng trước nguy cơ trở thành một quốc gia phụ thuộc vào các quốc gia trong Hiệp định.

Theo PGS, TS Trần Hoàng Ngân (thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ), sở dĩ các nước mời Việt Nam tham gia vào Hiệp định này trong khi thu nhập bình quân của Việt Nam chỉ hơn 2.000 USD là bởi vì họ đã thấy được tiềm năng của chúng ta. Việt Nam có dân số lên tới 95 triệu người, đồng nghĩa với thị trường tiêu thụ rất lớn. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức với Việt Nam. Chính phủ cần tiếp tục đánh giá thách thức và cơ hội để biến thách thức thành cơ hội. Nếu không tận dụng được cơ hội thì nhập khẩu của Việt Nam có nguy cơ cao hơn xuất khẩu. Số liệu năm 2017 cho thấy, kim ngạch xuất nhập khẩu của 11 quốc gia này là 10.000 tỷ USD, Việt Nam xuất khẩu 34,2 tỷ USD, nhập khẩu 33,9 tỷ USD (tức xuất siêu 0,3 tỷ USD). So với quy mô đó, Việt Nam mới chiếm 0,68%. Dư địa đưa hàng Việt Nam vào các thị trường này rất lớn, song đây cũng là thị trường rất kén sản phẩm. Vì vậy các biện pháp phòng vệ thương mại cần được đưa ra để tránh nhập siêu như đã xảy ra như bài học  khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007.

Việt Nam là một quốc gia có nguồn nhân lực trẻ dồi dào, giá thành lao động rẻ. Đây vừa là cơ hộ, lại vừa là thách thức khi hội nhập CPTPP

Trong khi đó, so sánh 10 mặt hàng chủ đạo với các nước trong khu vực, PGS, TS Hoàng Văn Cường (ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội) lại cho biết: Việt Nam đang xếp nhóm thấp nhất. Những mặt hàng được đánh giá có lợi thế lớn nhất như dệt may, giày da, đồ gỗ thì Việt Nam cũng đứng xếp hạng thứ 3. Nhóm đồ gia dụng xếp thứ 5, mỹ phầm xếp thứ 6, rau quả, cà phê, hồ tiêu, thịt xếp rất thấp. Những mặt hàng kém cạnh tranh Việt Nam đang đứng gần như “đội sổ” như mặt hàng mỹ phẩm đứng thứ 11; Văn phòng phẩm, phim ảnh đứng thứ 9; điện, điện tử, vi tính đứng thứ 7.

Theo ông, thách thức lớn đối với hàng hóa Việt Nam đó là quy tắc xuất xứ hàng hoá. Ngành dệt may được cho là ngành có lợi thế, nhưng trên thực tế nguyên liệu xuất xứ của Việt Nam lại không nằm trong khối này nên việc tính tiêu chí xuất xứ của nhiều sản phẩm dệt may không đủ điều kiện để tham gia vào khối. Vấn đề đặt ra là Việt Nam phải có lộ trình chủ động nguyên liệu trong nước; hoặc là phải nhanh chóng chuyển từ nhập nguyên liệu từ các quốc gia khác sang nhập nguyên liệu từ các nước tham gia CPTPP để đủ điều kiện quy tắc xuất xứ. Đây là thách thức nhưng đồng thời cũng là cơ hội tốt để Việt Nam thu hút các nhà đầu tư để sản xuất nguyên liệu tạo ra các chuỗi giá trị trong sản xuất trong nước.

Cần ứng dụng KHCN để đẩy mạnh năng suất lao động

Trong khi đó, ông Phan Xuân Dũng – Chủ nhiệm Uỷ ban KHCN & Môi trường của Quốc hội lại cho rằng, thách thức lớn nhất với Việt Nam khi tham gia CPTPP là trình độ phát triển. “Với trình độ phát triển, năng suất lao động thấp, chưa có sản xuất quy mô lớn, theo chuỗi và ứng dụng khoa học vào sản xuất chưa cao…, tôi lo ngại sẽ trở thành thị trường tiêu thụ của các nước nếu Việt Nam không cố gắng, không vươn lên. Khi CPTPP có hiệu lực, doanh nghiệp nội địa Việt Nam sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh rất cao vì trình độ công nghệ gần như xếp ở hàng thấp nhất, trong khi hàng rào thuế quan, phi thuế quan sẽ không còn là “cứu cánh”. Vì vậy, theo ông Dũng, nhân tố quan trọng nhất để tránh việc này là là Chính phủ phải đẩy nhanh ứng dụng khoa học, công nghệ để tăng năng suất lao động.

Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Việt Dũng – Giám đốc Sở KHCN TP.HCM cũng đề cập đến những bất cập trong nông nghiệp. “Rõ ràng, cơ hội để Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sang thị trường các nước trong CPTPP là rất khó, thậm chí một số mặt hàng nông nghiệp chúng ta nhập khẩu hiện nay có giá thành còn thấp hơn cả nội địa. Nếu không có sự đầu tư cho nông nghiệp thì chúng ta sẽ bị thất bại ngay trên “sân  nhà”. Theo tôi, nông nghiệp phải được hỗ trợ bởi KHCN, nhưng phải sản xuất theo quy mô lớn, có chuỗi cung ứng thì KHCN mới vào được. Mà để làm được điều này, Chính phủ phải chuẩn bị sớm, không sẽ khó khăn cho người dân”.

Dương Bình

Lượt xem 10